Lời giới thiệu gia phả họ Lê Tự tại Kim Long Huế

 

Toàn bộ bà con họ Họ Lê Tự tại Kim Long, Huế đều la hậu duệ của ngài Lê Tự Khiêm (1735-1783). Ngài Lê Tự Khiêm nguyên ở tại Thanh Quýt, Điện Bàn, Quảng Nam, là hậu duệ đời thứ 6 của ngài Tiền Hiền Lê Tự Cường từ Hải Dương vào Quảng Nam năm 1471. Họ Lê Tự tại Thanh Quýt có hai nhánh: Nhánh nhất từ ngài 2.3.1.2 Lê Tự Văn, và nhánh nhì từ ngài 2.3.1.3 Lê Tự Hoằng. Ngài Lê Tự Khiêm thuộc nhánh nhì, tức hậu duệ trực hệ từ ngài 2.3.1.3 Lê Tự Hoằng.  Năm 1765 Ngài Lê Tự Khiêm ra Huế làm quan cho Triều đình chúa Nguyễn với chức Cai Cơ: Quan hàm Chánh Tam Phẩm, tước Trung Cơ Huyền Hà Hầu. Sắc phong Trung Cơ Hùng Thông Huyền Hà Hầu

Ngài Khiêm có 3 con trong đó chỉ có 1 trai là Lê Tự Đàn (1753-1825). Ngài Đàn là thầy thuốc Đông y. Ngài Đàn có 5 con trong đó chỉ có một trai là Lê Tự Lộc (1790-1832). Ngài Lê Tự Lộc là Quan Ngự Y thời vua Minh Mạng cùng vợ ngài là bà Tôn Nữ Ngọc Luân (thuộc Hoàng tộc nhà Nguyễn) có  8 con, trong đó có 2 trai có hậu duệ cho đến ngày nay : Lê Tự Thống (1819-1892) và Lê Tự Diệu (1821-1864).  Từ đây, họ Lê Tự tại Kim Long có 2 nhánh: nhánh nhất từ ngài Lê Tự Thống, và nhánh nhì từ ngài Lê Tự Diệu. Con cháu mỗi nhánh hiện có lập gia phả riêng mà không có gia chung cả họ Lê Tự tại Kim Long .

Cách đây vài năm, người viết lời giới thiệu này (Lê Tự Hỷ, hậu duệ đời thứ 13 tại Thánh Quýt, Điện Bàn, Quảng Nam) đã đến Kim Long, Huế, đề nghị hai nhánh Lê Tự tại Kim Long nhập hai gia phả riêng thành một gia phả chung để có đủ thông tin chính xác nhập vào gia phả họ Lê Tự mà người viết đã bắt đầu thiết lập năm 2008 và đã đưa lên Internet với tên www.ho-letu-thanhquyt.com. Sau nhiều lần đến gặp gỡ với bà con Lê Tự tại Kim Long, nay (tháng 4 năm 2014) với sự đồng thuận của bà con của hai nhánh: các anh Lê Tự Huy, Lê Tự Hùng thuộc nhánh nhất, và các anh Lê Tự Quốc Khánh, Lê Tự Thái thuộc nhánh nhì, tôi (Lê Tự Hỷ) và Lê Tự Thái đã ráp hai gia phả của hai nhánh thành một gia phả chung cho họ Lê Tự tại Kim Long vào cuối tháng 4 năm 2014.  

Bản gia phả hợp nhất của họ Lê Tự tại Kim Long, Huế, được thiết kế theo mô hình gia phả họ Lê Tự  mà tôi (Lê Tự Hỷ) lập năm 2008 với đặc điểm là vừa ưu tiên theo hàng ngang của tất cả các thành viên cùng thế hệ trong cả họ và ưu tiên riêng theo hàng dọc là mỗi người có một trang cá nhân với cây gia phả từ ông Tiền hiền xuống trực hệ qua mỗi đời cho tới các con của người ấy theo màu đỏ. Theo tôi (Lê Tự Hỷ), đây là mô hình gia phả khác biệt và tốt hơn những mô hình gia phả sẵn có trên Internet mà nhiều dòng họ khác đã, đang dùng, bởi vì nó cho phép dễ dàng truy cập đến từng thành viên với đầy đủ thông tin theo bàng hệ và trực hệ từ ông Tiền hiền xuống thành viên ấy.

Ký hiệu trong cây gia phả:   Mỗi thành viên trong gia phả có một mã số đi liền với tên. Mã số gồm 4 số mã cách nhau bởi dấu chấm (.). Chẳng hạn:  4.15.

7.2 Lê Tự X . Như thế:

- số mã thứ nhất: 4 cho biết Lê Tự X thuộc thế hệ thứ 4

- số mã thứ nhì: 15 cho biết, trong thế hệ thứ 4, Lê Tự X đứng thứ 15 trong cả họ, nghĩa là Lê Tự X có 14 anh hay chị con các bác trong cả họ

- số mã thứ ba: 7 cho biết thân sinh của Lê Tự X đứng thứ 7 trong thế hệ 3

- số mã thứ tư: 2 cho biết Lê Tự X là con thứ 2 trong gia đình (nghĩa là có một anh hay chị với cùng một người cha, có thể khác mẹ).

Điển hình là mã số của ngài Lê Tự Khiêm: Trong gia phả họ Lê Tự tại Thanh Quýt, ngài Lê Tự Khiêm có mã số:  6.26.11.1 Lê Tự Khiêm. Như vậy, ngài Khiêm thuộc thế hệ 6 (tính từ ngài Tiền Hiền Lê Tự Cường: 1.1.0.1 Lê Tự Cường thế hệ 1); trong thế hệ 6, ngài Khiêm đứng thứ 26, nghĩa là ngài Khiêm có 25 người anh hay chị con tất cả các bác trong cả họ; thân phụ của ngài Khiêm đứng thứ 11 trong thế hệ 5; trong gia đình ngài Khiêm là con trưởng. Với mã số này, trang cá nhân của ngài Lê Tự Khiêm được lưu trữ trong file có tên  là 6.26.11.1letukhiem.html 

Tuy nhiên ở đây, trong gia phả riêng của họ Lê Tự tại Kim Long, ngài Lê Tự Khiêm sẽ được ghi với mã số 1.1.0.0 Lê Tự Khiêm, nghĩa là thế hệ 1, người thứ nhất trong thế hệ 1 của họ Lê Tự tại Kim Long, Huế. Ngài Lê Tự  Đàn là con thứ 2 của ngài Lê Tự Khiêm nên có mã số 2.2.1.2 Lê Tự Đàn; ngài Lê Tự Lộc là con thứ 3 của ngài Lê Tự Đàn nên có mã số 3.3.2.3 Lê Tự Lộc, v.v...

Sau khi Lê Tự Thái hoàn tất viếc ráp hai gia phả của hai nhánh thành bản gia phả hợp nhất thì tôi (Lê Tự Hỷ) đem bản viết tay này vào Tp Hồ Chí Minh và được Lê Tự Minh (hậu duệ ưu tú đời thứ 9 thuộc nhánh nhất Kim Long, một doanh nhân thành đạt, có uy tín và là một mạnh thường quân rất hiếu nghĩa của họ Lê Tự, cư trú tại Tp Hồ Chí Minh) giúp bằng cách cho nhân viên nhập gia phả vào máy tính điện tử để có thể tải lên Internet.

Trong máy tính điện tử hay trên Internet mỗi thành viên trong gia phả đều có một trang cá nhân được lưu trữ theo tên file với mã số của thành viên ấy. Chẳng hạn, ngài Lê Tự Đàn có mã số 2.2.1.2 Lê Tự Đàn thì  file tương ứng là 2.2.1.2letudan.html; ngài Lê Tự Lộc có mã số là 3.3.2.3 Lê Tự Lộc thì file tương ứng là 3.3.2.3letuloc.html, v.v....     

                                                                                                                                                                                                                                                           Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 5 năm 2014

  Kính ghi 

Lê Tự Hỷ (đời thứ 13 tại Thánh Quýt)